Những Ǵ C̣n Lại    

 

                                                                  Bài viết của Thu-Phong Lê Nhựt Thăng

      đăng ở Đặc San Kỷ Niệm Ngày Hội Ngộ Cựu Giáo Sư & SinhViên 

                                                                               Đại Học Sư Phạm Huế Hải Ngoại – Tháng 7, 2013.

Sứ mạng của người thầy là giúp phát triển kiến thức cũng như gieo mầm lư tưởng tự do nơi những thế hệ trẻ với niềm tin những thế hệ này sẽ góp phần xây dựng đất nước trên nền tảng tự do dân chủ.  Tiếc thay những mầm non vô giá ấy cũng như lư tưởng tự do đă bị chôn vùi nơi quê hương yêu dấu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Thầy tṛ chúng ta bỏ nước ra đi một phần cũng v́ lư tuởng tự do ấy. Điều này đă giày ṿ tâm trí tôi sau hơn 30 năm sống tại đất khách quê người.  Tôi đă được đào tạo làm người thầy nhưng tôi luôn cảm thấy ḿnh chưa hoàn thành nhiệm vụ. Tôi nh́n về quê hương với niềm thất vọng và bất lực thật đắng cay.

Ngày tôi rời bỏ quê hương trên một chiếc tàu bé nhỏ là một kỷ niệm khó quên. Chiếc thuyền nhỏ rời bến Ninh Kiều tại Cần Thơ, chở tôi đến tàu đậu trên sông Hậu Giang rồi tàu chạy theo sông ra biển.  Khi tàu đến hải phận quốc tế th́ trời đă tối. V́ khởi hành đúng ngày rằm nên khi đến hải phận quốc tế th́ tôi đă chứng kiến một cảnh đẹp thật kỳ diệu, đó là ánh trăng rằm vô cùng rực rỡ  trên biển cả mênh mông, phẳng lặng. Tôi đă thấy được ánh sáng của Tự Do và h́nh ảnh đêm trăng rằm luôn ghi sâu trong tâm trí tôi. Và từ đó, dù ờ nước nào, tôi cũng t́m đến ánh trăng trên biển cả mênh mông, phải chăng v́ bản chất lăng mạn của tôi hay v́ h́nh ảnh một “đêm trăng vượt biển” đă  in sâu vào tiềm thức của tôi. 

  Trăng rằm trên đại dương

Sau khi định cư tại Mỹ, tôi vẫn thường liên lạc với sinh viên và học sinh các trường trước 75. Lúc c̣n ở Việt Nam, tôi có dạy một số giờ Pháp Văn tại Đại Học Sư Phạm Huế cũng như các trường trung học lớn.  Sau này tôi có dịp gặp lại một số sinh viên và học sinh của các trường nói trên.  Tôi thật vui và cảm động khi các em này vẫn giữ được t́nh thầy tṛ, dù đă có gia đ́nh và sự  nghiệp. Nền giáo dục trước 75 thật hoàn mỹ, đó là sự cân bằng của trí tuệ, đạo lư và t́nh người, dù đất nước chúng ta đă trải qua những năm dài trong chiến tranh.

Tôi cũng đă có dịp trở về Việt Nam và ghé thăm trường Đại Học Sư Phạm Huế. Chiều hôm đó trời mưa. Huế thường hay mưa, đó là nét buồn muôn thuở của Huế. Nhưng cơn mưa chiều hôm đó mang một nỗi buồn thật khó tả. Đứng trước ngôi trường xưa bỗng nhiên tôi muốn khóc. Trường ốc và các lớp học vẫn c̣n đó nhưng thầy tṛ năm xưa đă ra đi phiêu bạt bốn phương trời, có người đă bỏ ḿnh trên biển cả mênh mông. Tôi nhớ đến những câu thơ của Paul Verlaine, với nỗi buồn của cơn mưa …

Il pleure dans mon cœur 

Come il pleut sur la ville

Quelle est cette langueur

Qui pénètre mon cœur?

   (Paul Verlaine, Il pleure dans mon cœur)

 

Tôi khóc thầm trong tim

Như trời mưa ngoài phố

Ưu tư nào

Xâm chiếm tim tôi?

   (Lê N Thăng phỏng dịch)

 

 

Đại Học Sư Phạm Huế một chiều mưa buồn (2005)

 

Qua mấy chục năm sống ở đất khách quê người, tôi đă làm được ǵ? Trước hết là tôi phải đổi nghề, từ nghề dạy học qua kỹ thuật, như vậy mới mong có chổ đứng trong một đất nước với kỹ thuật tân tiến.  Tôi đă không sai lầm khi chọn con đường ấy và các con tôi cũng đă thành công khi chọn những ngành đáp ứng được nhu cầu nơi xứ người. Tuy nhiên ở đây người Việt không thể sống bên nhau trong “đại gia đ́nh”, các con tôi phải lập nghiệp khắp bốn phương trời trên nước Mỹ. Tôi đă sống ở vùng Washington DC gần nửa đời người,  mùa đông giá lạnh nh́n chung quanh chỉ thấy một màu tuyết trắng, hơi ấm tỏa ra từ ḷ sưở́ của từng nhà nhưng sự ấm áp ấy được thu hẹp trong mổi gia đ́nh, sau những cánh cửa được khép kín, tách rời với thế giới bên ngoài.  Do đó có những buồn vui lẫn lộn khi sống ở đất khách quê người.

 

Khi ḿnh tách ra xa để nh́n thế giới loài người th́ mới thật sự cảm thấy cô đơn, một sự cô đơn pha lẫn với niềm tin, chưa phải là tuyệt vọng. Đó cũng là tâm trạng của người phi công trong “Chuyến Bay Đêm” (Vol De Nuit) của nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry.  Vào khoảng năm 1920, những chuyến bay đêm để chuyển giao những bưu kiện được xem là rất nguy hiểm. Fabien, người phi công trong chuyến bay đêm có trách nhiệm chuyên chở  những bưu kiện trên đường bay tại Nam Mỹ, đă thiệt mạng v́ máy bay của anh ta đă rơi sau khi gặp một cơn băo lớn.

 

Khi bay một ḿnh trong đêm khuya, từ cao Fabien nh́n xuống những làng mạc, nơi có những ánh đèn thật bé nhỏ nhấp nháy trong   đêm. Đối với Fabien những ánh đèn bé nhỏ ấy là sự liên lạc duy nhất giửa anh ta và loài người.  Anh thầm nghĩ:

 

Et maintenant, au coeur de la nuit comme un veilleur, il découvre que la nuit montre l’homme: ces appels, ces lumières, cette inquiétude. Cette simple étoile dans l’ombre: l’isolement d’une maison. L’une s’éteint: C’est une maison qui se ferme sur son amour” (Và bây giờ, như một người canh tuần trong đêm sâu, anh ta nhận ra rằng đêm khuya xác định sự hiện diện của con người qua những tiếng gọi, những ánh sáng, nỗi lo âu. Một ánh sao lóe lên trong bóng tối, đó chính là sự cách biệt của một ngôi nhà. Một ánh sao vụt tắt, đó chính là lúc t́nh thương từ một ngôi nhà được khép lại).

 

Nỗi cô đơn của Fabien không tuyệt vọng, không sợ hăi, trái lại nó mang một niềm tin thật kỳ lạ v́ chất chứa t́nh người.

 

Tôi không ngạc nhiên khi giáo sư Bùi Xuân Bào đă chọn tác phẩm này để giảng dạy trong một khóa văn chương Pháp tại Đại Học Huế. Tác phẩm không dày, lời văn rất đơn sơ, nhưng ư tưởng vô cùng sâu sắc, đầy t́nh người.  Tôi nhắc đến tác phẩm Vol De Nuit  để tưởng nhớ đến một người Thầy khả kính.

 

Rồi khi nh́n vào tấm gương, tôi thấy tóc ḿnh đă bạc, trên trán ghi sâu những vết nhăn của thời gian, của lo âu và phiền muộn … Niềm vui nếu có chỉ làm chậm lại sự hủy diệt của thời gian, đoạn đường cuối nếu c̣n nhiều hoa thơm cỏ lạ th́ chúng cũng sẽ tàn v́ đời thật sự là vô thường, có đó rồi không.  Nhiều khi thầm nghĩ ḿnh sống nơi không phải là quê hương của ḿnh th́ chẳng khác nào là “người khách lạ”, tương tự như cái nh́n của nhà văn Pháp Albert Camus trong tác phẩm “L’Étranger”, khi thế giới chung quanh trở nên xa lạ.  Có một hôm tôi vào tiệm ăn, một gia đ́nh người Việt ngồi bên cạnh, khi tôi chỉ nghe cha mẹ nói với các con bằng tiếng Mỹ, cái ư tưởng “người khách lạ” lại đến trong tâm trí tôi sâu đậm hơn. Ḿnh phải sống xa quê hương để rồi với thời gian không c̣n nhớ cội nguồn, không c̣n biết ḿnh là ai, điều ấy thật là đáng sợ.

 

Cuối cùng chỉ c̣n tôi với tôi, với những ǵ c̣n lại …

 

Những ǵ c̣n lại tôi với tôi

Quê hương xưa chừ đă mất rồi

Phượng không đỏ sân trường vắng lặng

Huế mưa buồn nuớc mắt chưa vơi.

 

Tôi không c̣n hơi ấm Mẹ hiền

Nghe trong đêm lời nguyện kinh cầu

Tiếng chuông ngân đưa về tỉnh thức

Vĩnh biệt rồi ngày ấy c̣n đâu.

 

Tôi chỉ c̣n em, giờ xa cách

Chuyến đ̣ xưa ḿnh tôi bến đợi

Sông vô t́nh nước vẫn c̣n trôi

Đêm cô đơn sương lạnh bên đồi.

 

Hiện tại chỉ c̣n tôi với tôi

Bên đại dương đêm trăng huyền ảo

Dĩ văng chưa phai nhiều kỷ niệm

Tương lai mù mịt cơi vô thường.

 

Lê Nhựt Thăng