o Ảnh

 

Ngày Thanh rời quê hương trên một chiếc thuyền bé nhỏ cách đây 23 năm, đi từ bến Ninh Kiều tại Cần Thơ, theo con sông để thoát ra vùng biển rộng ... vẫn c̣n là một kỷ niệm in sâu trong tiềm thức của chàng.  Chuyến vượt biển đi t́m tự do của chàng đă trăi qua mười ngày chín đêm trong cơn băo hải hùng vẫn c̣n hiện rỏ trong tâm trí, những cơn sóng khổng lồ trong đêm tối dày đặt như muốn chôn vùi chiếc thuyền đang bị ngập nước với những linh hồn đang chờ trở về với ḷng cát trắng đại dương.  Nhưng con thuyền đă được sóng đưa tấp vào một đảo nhỏ phiá đông Mă Lai như là một phép lạ.  Tuần trước, t́nh cờ chàng đọc được câu "Chuyện Cũ" của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, kể lại chuyến vượt biển của tác giả cùng vợ con, chàng mới biết có vô số người không được may mắn như chàng.  Chàng không cầm được nước mắt khi đọc đoạn kết của câu chuyện ...

 

Em lấy cái b́nh nylon, ôm vào người rồi nhảy xuống. May ra sóng đánh vào bờ! Thà nhảy xuống trước, chứ để tầu vỡ th́ khó mà sống được, v́ cả trăm người sẽ níu chặt lấy nhau và cùng chết hết!

 

Vợ tôi nh́n tôi bằng ánh mắt ly biệt, đưa tay làm dấu đọc kinh. Tôi và con trai tôi cũng làm dấu Thánh giá và cầu xin Chúa che chở trong cơn nguy khốn. Tôi vừa đưa cho vợ tôi cái b́nh nylon, chưa kịp nói ǵ thêm th́ một đợt sóng vĩ đại ấp tới, làm chiếc tầu lật ngang, vỡ tung buồng lái ở tầng trên. Tiếng người đồng thanh kêu rú lên, bị tiếng gầm của sóng át đi.  Buồng máy, kính cửa sổ, mui tầu, mái gỗ bọc tôn và bao nhiêu thứ ngổn ngang trên tầu đều rụng hết xuống biển, kéo theo quá nửa hành khách gồm đàn bà và trẻ em. Tôi té lăn trên sàn tầu trong khối nước mặn khổng lồ vừa ập tới, tôi đua tay quờ quạng bám víu bất cứ thứ ǵ để sống c̣n. Từ giây phút ấy, tôi không c̣n nh́n lại được vợ tôi lần nào nữa! Đứa con tôi cũng vuột khỏi tay tôi và văng xuống biển ... 

 

Thanh cũng c̣n nhớ câu chuyện của chị Vũ Thanh Thủy kể.  Chị Thủy vượt biển cùng gia đ́nh vào khoảng tháng mười năm 1979.  Tầu của chị không may bị trôi giạt vào Vịnh Thái Lan và đă bị hải tặc Thái Lan cướp bóc và phá vỡ tầu.  Chị được chúng tha v́ có đứa con nhỏ 3 tuổi nhưng đa số phụ nữ trên tầu đă bị chúng đưa vào đảo Koh Kra để hành hạ và hảm hiếp tập thể.  Đảo Koh Kra là một  hoang đảo có rừng núi, hang động, và một hải đăng, với diện tích khoảng 2 cây số vuông. Bọn hải tặc đă dùng nơi đây để chứa đồ cướp được và giam giử biết bao nhiêu phụ nữ  để thỏa măn thú tính của chúng, có người phải trốn vào rừng sâu hay hang động để rồi phải chết dần v́ đói khát. 

 

Bài thơ sau đây ghi lại h́nh ảnh bi đát của một người vợ, v́ muốn giữ vẹn sự trong trắng của thân xác ḿnh cho chồng, đă gieo ḿnh xuống biển sâu tự vận khi bị hải tặc sắp bắt nàng đi...

 

 

ĐỂ LẠI CHO ANH

 

Em để lại quê hương thù hận

Cùng anh vượt biển tháng tư buồn

Phố Saigon em thương lần cuối

Nước mắt đầy ngày hạ mưa tuôn.

 

Em để lại t́nh người, kỷ niệm

Mái trường xưa nay phủ rêu xanh

Con đường mùa thu vàng mộng ảo

Một buổi chiều em đă yêu anh.

 

Em để lại thân em ngà ngọc

Không vết nhơ nơi ḷng biển rộng

Khi bốn bề hải tặc bao quanh

Chôn t́nh em và trái tim anh.

 

Em để lại anh những niềm đau

Ngày ba mươi tháng tư tủi nhục

Và bao oan hồn nơi biển vắng

Trôi giạt về đâu những con tàu...

 

 

Thanh cảm thấy sự phi lư của đời người và định mạng, cái chết và sự sống chỉ cách nhau một cơn sóng lớn trong vùng biển động, giấc mơ tự do và hạnh phúc của những cô gái vô tội bị vùi dập trong tay bầy ác quỹ trên đảo Koh Kra ... Và chàng rùng ḿnh khi nh́n h́nh ảnh của những trại tị nạn nơi đó vô số thuyền nhân đă sống những năm tháng tuyệt vọng chờ đợi được định cư , nay chỉ để lại vết tích những mái lều xiêu vẹo, ngôi chùa, nhà thờ, ngôi mộ đổ nát ... một cảnh hoang vắng ghê rợn như băi tha ma và những đợt sóng từ trùng dương tấp vào bờ những con thuyền vỡ nát,  những xác chết không hồn.  Những điều Thanh biết được hay nghe kể lại chỉ là hạt cát trong bể khổ vô tận của khoảng gần một triệu ngườ́ vượt biển đi t́m tự do và đến được đất liền (Riêng đảo Koh Kra th́ có 160 người chết và 1,250 người  được Ủy Hội Quốc Tế cứu thoát chỉ trong ṿng 12 tháng).

 

Lê Nhựt Thăng

4/2001